Nghiên cứu này phân tích các yếu tố của hệ thống thương mại quốc tế của Việt Nam nhằm đưa ra bức tranh toàn cảnh về diễn tiến hoạt động thương mại quốc tế (TMQT) của Việt Nam; đánh giá các ưu điểm, tồn tại; từ đó đề xuất các giải pháp để tăng cường tự do TMQT tại Việt Nam.
Được hiểu là các hoạt động đầu tư, kinh doanh qua biên giới giữa Việt Nam và các nước bên ngoài Việt Nam, tự do TMQT trong Nghiên cứu này được xem xét qua mức độ tự do hóa trong tất cả các khía cạnh thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và đầu tư.

 

Hình ảnh có liên quan

Các tiêu chí được sử dụng để đánh giá mức độ tự do hóa TMQT được phân thành 03 nhóm: (i) Nhóm các tiêu chí về vai trò của TMQT trong nền kinh tế Việt Nam và tính chủ động trong tận dụng tự do TMQT; (ii) Nhóm các tiêu chí về độ mở của nền kinh tế Việt Nam cho TMQT về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư; (iii) Nhóm các tiêu chí về mức độ kiểm soát hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam từ góc độ chủ thể và các biện pháp sử dụng Trong tổng thể, nếu lấy mốc từ năm 1995, thời điểm Việt Nam gia nhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ, có thể thấy quá trình tự do hóa TMQT ở Việt Nam đến nay đã trải qua 04 giai đoạn, với các dấu mốc là việc tham gia các Hiệp định mở cửa thương mại quan trọng.

Giai đoạn 1995-2002 bắt đầu bằng việc Việt Nam gia nhập ASEAN, với dấu ấn quan trọng là ký kết AFTA và Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ. Giai đoạn từ 2002-2007 là giai đoạn mà Việt Nam đã bước một bước dài trong quá trình hội nhập với việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) trong khu vực ASEAN, ASEAN+ và đặc biệt là việc gia nhập WTO năm 2007. Trong giai đoạn 2007-nay, quá trình tự do TMQT của Việt Nam có bước chuyển sâu sắc từ chiều rộng sang chiều sâu với việc tiếp tục ký kết các FTA ASEAN+, 02 FTA song phương đầu tiên và đặc biệt là đàm phán một loạt các FTA thế hệ mới với các đối tác quan trọng như TPP, FTA Việt Nam – EU.

Theo các tiêu chí đánh giá nói trên thì có thể nói tự do TMQT của Việt Nam trong hai thập kỷ qua đã đạt được những thành tựu ấn tượng với việc mở cửa nền kinh tế mạnh mẽ thông qua ký kết và thực thi nhiều hiệp định mở cửa thương mại quan trọng, qua đó cắt giảm thuế quan cả ở góc độ MFN và ưu đãi theo FTA; các biện pháp thi thuế đã được loại bỏ phần lớn; điều kiện gia nhập thị trường dịch vụ, đầu tư đã được hạ thấp đáng kể, một số ngành đã mở cửa hoàn toàn; dỡ bỏ hầu hết các điều kiện về chủ thể xuất nhập khẩu và duy trì ở mức hạn chế các biện pháp kiếm soát thương mại. Kết quả là TMQT đã đóng một vai trò lớn trong sự phát triển của nền kinh tế cũng như cải cách thể chế kinh tế. Tuy nhiên, Việt Nam được đánh giá là chưa có những tính toán thực sự chủ động trong quá trình hội nhập, và chưa tận dụng được triệt để những lợi ích mà tự do TMQT có thể mang lại.

Do đó, đàm phán để đạt được những cam kết mở cửa hợp lý, phù hợp với năng lực cạnh tranh của Việt Nam và xây dựng cơ chế, giải pháp để hiện thực hóa những lợi ích kỳ vọng của mở cửa thương mại là nhiệm vụ trọng tâm trong hội nhập kinh tế quốc tế thời gian tới của Việt Nam.

Nghiên cứu này được thực hiện bởi Trung tâm WTO – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam với sự hỗ trợ tài chính của Dự án Friedrich Naumann Foundation for Freedom (FNF)